Tôi không biết những quán cà phê vỉa hè xuất hiện từ bao giờ. Tôi cũng không hiểu tại sao người ta lại bị những nơi như thế thu hút hơn là những không gian đóng kín trong phòng máy lạnh, với một chiếc cửa sổ bằng kính vừa đủ để ngăn cách với bên ngoài, nhưng vẫn vừa đủ để theo dõi mọi diễn biến của nó.
Ảnh: Sưu tầm
Nhưng hôm nay, tôi thử ngồi viết ở một quán cafe ngoài trời.
Đó là một góc ngã ba. Trước mặt là con đường cái nối dài từ quốc lộ ra đến khu công nghiệp. Những chiếc xe công, xe ben và xe tải lớn vẫn thường xuyên chạy ngang qua đây.
Tôi lớn lên trong một khu phố bao quanh bởi dân nhập cư và dân buôn bán. Một sự pha trộn giữa những người công nhân chọn rời bỏ lối sống bán mặt cho đất, bán lưng cho trời ở quê hương để bước vào những nhà máy như những chú robot được lập trình để làm một công việc từ ngày này qua tháng nọ, với một mức lương rẻ bèo chẳng thể lo nổi cho cuộc sống đắt đỏ ở thành phố. Họ thường là người Bắc di cư vào Nam.
Còn lại là những người buôn bán rặt ở trong Nam. Gần nhà tôi có một khu chợ lớn, đi thêm vài km quá khu công nghiệp còn có cả một chợ đầu mối chuyên cung cấp thực phẩm từ khắp nơi đổ về cho thành phố. Dân buôn bán thường chất phác và xởi lởi, đôi khi có phần bỗ bã hay thẳng thắn hơn mức cần thiết. Cho dù từ nhà bố mẹ ra đến chợ chỉ chừng vài trăm mét, nhưng cách những người này làm ăn, buôn bán, thậm chí nói chuyện,… vẫn luôn là điều gì đó khá xa lạ với tôi.
Tôi được nuôi lớn trong môi trường giáo dục khác hẳn với những gì nhìn thấy ở xung quanh. Trừ nhà trẻ và mẫu giáo ở gần nhà, kể từ cấp 1 trở đi, tôi chỉ toàn đi học ở những ngôi trường cách nhà không dưới 5km. Điều này có nghĩa là tôi luôn đi học trên xe máy của bố hoặc mẹ, và tôi có rất ít mối liên hệ với những người bạn hàng xóm, trong khi bạn học thì bao giờ cũng ở quá xa khiến sự thân thiết của chúng tôi được đo bằng độ dài của những lần “buôn dưa lê” qua điện thoại. Bố tôi thường không thích điều đó. Tôi cũng không, vì tôi biết ông sẽ càu nhàu tôi mỗi khi hóa đơn đổ về cuối tháng.
Thế nhưng, không phải tôi không có sự gắn bó với khu phố nơi mình sống.
Ngày bé, đường sá ở đây không sạch sẽ và con phố trông không khang trang như bây giờ. Chỉ trừ con đường cái được rải bê tông phẳng phiu, còn lại, toàn bộ những con hẻm xung quanh nhà tôi toàn là đường đá. Cũng nhờ vậy mà tôi được chứng kiến nó “thay áo” thường xuyên, đặc biệt sau mỗi mùa mưa. Nước cuốn trôi đi lớp đá mi, để lại mặt đường trơ trọi những bụi và cát, đôi khi có vài vũng nước lớn mà xe máy đi ngang phải khổ sở tránh né, trong khi bọn trẻ con lại lấy việc nhảy vào những vũng nước đó làm vui.
Hồi đó, khu phố cũng không nhiều nhà như bây giờ. Từ đầu đến cuối phố chỉ có vài căn nhà coi “được”, tức ra dáng một căn nhà được xây bằng gạch và có cổng ra vào tách biệt, không phải một khu nhà trọ xập xệ và kín bưng, chỉ chừa đúng một đường vào có cửa khóa, như lối vào một cái hang thông ở hai đầu. Nhưng cũng nhờ thế mà hồi đó chúng tôi rất vui, vì xung quanh có nhiều chỗ để chơi. Có khi là khu đất trống ngay trước nhà, có khi là những con đường ngoằn ngoèo dẫn ra con suối phía sau lưng. Chúng nên thơ trong mắt những đứa trẻ ngày ấy, vì ở đâu chúng tôi cũng có thể chơi được. Có đủ trò mà tụi tôi chơi không biết chán mỗi khi được gặp nhau, từ cá sấu lên bờ, keng, nhảy dây, trốn tìm, giấu đồ, đến hái những lá cây và hoa dại bên đường để chế ra những món “thuốc” độc lạ nhất trên đời.
Tôi không nghĩ ngày bé chúng tôi sống đơn giản hơn, nhưng vì khoảng thời gian đó không có nhiều thứ gây xao nhãng như bây giờ, nên chúng tôi chỉ tập trung chơi với nhau và vì vậy, trở nên sáng tạo với mọi điều chúng tôi có. Internet vẫn còn là món gì đó quá mới, và không đứa trẻ nào có trong tay một chiếc điện thoại riêng, dù là cùi bắp nhất. Cách duy nhất để chúng tôi giải khuây là chờ nhau về sau những buổi tan trường để bày đủ thứ trò phá phách.
Con phố này lớn lên theo chúng tôi.
Mỗi giai đoạn, chúng tôi lại nhìn nó theo cách khác. Có một lứa tuổi kỳ lạ gọi là dậy thì, khiến cho mỗi đứa tự động tách khỏi đám trẻ con nhốn nháo để lui mình vào một thế giới riêng, thay những trò chơi ồn ào và lộn xộn thành những mối suy tư thầm kín, hay lặng lẽ khám phá một sở thích nào đó mà bọn “choai choai” ngoài kia không hiểu được.
Lần lượt, anh Hai tôi, rồi đến tôi, và đến hai đứa trẻ kém tôi một và hai tuổi, dần tách nhau ra để bước vào thế giới riêng đó. Nhưng con đường không vì thế mà kém đi phần tấp nập, bởi sau chúng tôi, luôn có những lớp trẻ con khác thi nhau phá hoại sự yên tĩnh của không gian bằng những trò vui tủn mủn, bé tẹo nhưng cứ chơi hoài, chơi hoài.
Lâu lâu lại có một căn nhà mới xuất hiện, đồng nghĩa với những khoảng trống để vui chơi bị thu hẹp lại. Những cuộc “đại trùng tu” có thể làm thay đổi diện mạo của cả bầu trời tuổi thơ.
Nơi từng là đường mòn bí ẩn dẫn chúng tôi đến những thế giới mới, nay được mở rộng thành một con đường trải bê tông với hai bên là những ngôi nhà gạch kiên cố. Con suối nhỏ bắc ngang bởi cây cầu cột điện, nơi chúng tôi thường hứng chí thách nhau đi bộ hoặc đạp xe qua được thay bằng một đường ống cống khổng lồ rồi lấp đất lên trên. Những mỏm đất nơi chúng tôi thường chọn làm ranh giới chơi cá sấu lên bờ cũng dần biến mất để nhường chỗ cho những công trình từ lớn đến nhỏ, khi người dân quanh khu phố bắt đầu đông lên.
Tôi không lấy làm phiền lòng. Tôi đã có đủ kỷ niệm với nó. Khi tôi lớn lên và có những thay đổi của riêng mình, thiết nghĩ, con đường tuổi thơ của tôi cũng cần phải có những thay đổi của chính nó. Bọn bạn hàng xóm bây giờ, có đứa đã theo gia đình đi nơi khác; có đứa lập gia đình riêng và cũng chuyển đến một vùng nào đó xung quanh đây. Cũng có đứa vẫn sống ở khu phố này, nhưng không bao giờ chúng tôi nhìn thấy mặt nhau nữa.
Dẫu thế nào, con đường xung quanh nhà vẫn là một cầu nối không thể thiếu trong tuổi thơ tôi. Nó sẽ tiếp tục đón lấy dấu chân của những đứa trẻ, sinh ra, lớn lên và dần rời xa, như một cánh cửa dẫn dắt chúng đến với những đại lộ rộng lớn hơn sau này.

Leave A Comment